Giáo dục đại học của Pháp ở Việt Nam

Pháp áp đặt nền giáo dục ở Việt Nam gần 100 năm, nhưng giáo dục đại học ra đời khá muộn, vào nửa đầu thế kỷ 20. Những năm đầu thế kỷ 20, dưới tác độn

Cách chỉ đường theo bản đồ trong tiếng Anh
Nhiều phụ huynh chở con đến học ở trường ‘không giáo viên’
Học tiếng Anh qua truyện cười song ngữ

Pháp áp đặt nền giáo dục ở Việt Nam gần 100 năm, nhưng giáo dục đại học ra đời khá muộn, vào nửa đầu thế kỷ 20.

Những năm đầu thế kỷ 20, dưới tác động của cao trào “Châu Á thức tỉnh” và sự du nhập trào lưu dân chủ tư sản vào Việt Nam, tổ chức Duy Tân Hội do Phan Bội Châu sáng lập đã phát động phong trào Đông Du, đưa thanh niên Việt Nam sang du học Nhật Bản.

Tại Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập và vận hành sôi nổi (1907), dần trở thành trọng điểm tuyên truyền, cải một vàih văn hóa, giáo dục có ảnh hưởng rộng lớn ở Bắc Kỳ.

Ở Trung Kỳ, phong trào Duy Tân được khởi xướng, dẫn đến sự hình thành của 300 tổ chức trường học, giảng dạy theo lối mới, hướng tới mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Trước áp lực từ ảnh hưởng của một vài phong trào này và tầng lớp sĩ phu yêu nước, chính quyền Pháp buộc nghĩ đến tổ chức bậc đại học.

Đại học Đông Dương – thiết chế đại học Thứ nhất ở Việt Nam

Năm 1907, Pháp ra nghị định thành lập Đại học Đông Dương có 1 số trường cao đẳng, nhưng thực chất là trường trung cấp chuyên nghiệp. Hoạt động không được bao lâu, Đại học Đông Dương đâyng cửa bởi không có sinh viên và thiếu giáo sư.

giao-duc-dai-hoc-cua-phap-o-viet-nam

Một giờ học môn Vật lý ở Đại học Đông Dương một vài năm đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu

Hơn 10 năm sau đây, Pháp tổ chức 1 số trường cao đẳng (trên danh nghĩa mô hình đại học) nhưng vẫn phải nhận một vài sinh viên có trình độ cao đẳng tiểu học nên khi ra trường, bằng cấp chỉ tương đương trung cấp. Khoảng 20 năm thứ hai (1920-1939), Pháp nâng cấp một vài trường cao đẳng thành đại học, mở thêm trường cao đẳng mới như Thương mại, Văn khoa, Khoa học, Mỹ thuật.

Một trong một vài đại học có tuổi đời lâu nhất ở Việt Nam là Y khoa Hà Nội, thành lập năm 1902 như 1 trường thuốc École de Médecine. Sinh viên muốn vào trường phải có bằng thành chung (cấp hai), được đào tạo 3-4 năm rồi ra trường có danh xưng Y sĩ bản xứ, Y sĩ Đông Dương, Y sĩ phụ tá.

Kỳ thi tuyển Thứ nhất vào trường Y khoa có 121 thí sinh ở Bắc Kỳ, có nguyên tắc cao nhất là biết tiếng Pháp, kết quả 15 người trúng tuyển. Tiếp đây, trường tuyển sinh viên có chất lượng cao hơn, đề nghị tốt nghiệp tú tài toàn phần (cấp ba), bắt đầu cấp phát bằng Bác sĩ đa khoa.

Trong bối cảnh chiến tranh địa cầu lần thứ hai (1939-1945), 1 số trường đại học được thành lập hoặc nâng cấp từ cao đẳng. Hai trường Y Dược và Luật (từ cao đẳng Luật khoa) trở thành đại học theo quy chế đại học ở Pháp nhằm cung cấp nhân lực chăm sóc sức khỏe cho nhân viên bộ máy hành chính.

giao-duc-dai-hoc-cua-phap-o-viet-nam-1

Khóa y sĩ Đông Dương 1921-1925 trường Y khoa Hà Nội. Ảnh tư liệu

Năm 1941, Pháp thành lập Cao đẳng Khoa học đào tạo sinh viên lấy bằng cử nhân khoa học như đại học khoa học ở Pháp. Tiếp đây, Pháp mở rộng Cao đẳng Nông lâm đào tạo kỹ sư nông nghiệp và lâm nghiệp, Cao đẳng Công chính đào tạo kỹ sư và phó kỹ sư công chính.

Tất cả cao đẳng và đại học trên đều nằm trong 1 tổ chức chung là Viện Đại học Đông Dương, cơ quan mới được thành lập để chỉ đạo bậc giáo dục cao đẳng và đại học. Những người muốn thi vào một vài trường trên phải có bằng tú tài toàn phần hoặc tú tài thứ nhất.

Mục tiêu mở một vài đại học này là cho thanh niên Pháp ở Đông Dương có nơi học lên cao, thay vì phải về Pháp – vốn đang bị cắt đứt bởi chiến tranh leo thang. Mặt khác, Pháp phải tranh đua giành ảnh hưởng có Nhật trong tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam. Các vận hành mở rộng, nâng cấp trường cao đẳng thành đại học được Pháp tuyên truyền rầm rộ khắp Đông Dương.

Năm 1941, Pháp thành lập ký túc xá khang trang cho sinh viên Đại học Đông Dương ở Hà Nội, nhằm tách sinh viên ra khỏi ảnh hưởng của Nhật.

Đại học phải sơ tán vì chiến tranh, nhiều trường được mở ở Sài Gòn

Sau tháng 8/1945, nhiều đại học ở Hà Nội phải sơ tán theo kháng chiến, phần còn lại mãi hai năm sau mới bắt đầu dạy và học lại. Pháp bỏ tên Đại học Đông Dương, khai giảng một vài trường Y khoa, Luật, Khoa học và mở thêm chi nhánh ở Sài Gòn.

Năm 1947, Sài Gòn bắt đầu có 1 số cơ sở của Đại học Y khoa, nơi Thứ nhất có tên Y Dược do giáo sư Massias người Pháp làm Khoa trưởng. Kết quả khóa tuyển sinh Thứ nhất có 39 người đỗ ngành Bác sĩ Y khoa, 22 người ngành Nữ hộ sinh. Cũng trong năm này, Đại học Luật khoa được bình phục ở Sài Gòn có hàng trăm thí sinh dự thi cử nhân và cao học Luật.

giao-duc-dai-hoc-cua-phap-o-viet-nam-2

Trụ sở Y dược Đại học đường Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Do tình hình chính trị phức tạp nên Pháp bỏ tên Đại học Đông Dương, tập hợp một vài trường Y khoa, Luật và Khoa học thành Viện Đại học hỗn hợp Việt – Pháp. Viện trường là 1 người Pháp, viện phó là người Việt. Họ còn mở thêm 1 trọng điểm của viện này ở Sài Gòn do nhu cầu theo bậc đại học ở Sài Gòn và một vài tỉnh Nam Bộ phát triển khá mạnh.

Lần lượt đại học Văn khoa, Sư phạm (ở Hà Nội); Công chính, Truyền thanh – Điện khí (ở Sài Gòn) được ra đời. Nhiều nhà trí thức một vàih mạng lớn vốn xuất thân từ một vài trường này như Nguyễn Khánh Toàn (Sư phạm), Trường Chinh (Thương mại), Võ Nguyên Giáp (Luật khoa).

Cuối năm 1954, một vài trường ở Hà Nội có đa số nhân viên, trang thiết bị cộng 1 phần nhỏ sinh viên được đi lại vào Sài Gòn và hợp nhất có một vài trọng điểm giáo dục đại học đã có sẵn, giao cho chính quyền ở đô thị này quản lý, trở thành Viện Đại học Sài Gòn.

Đây cũng là dấu mốc kết thúc nền giáo dục của Pháp thi công ở Việt Nam.

Bạn đang xem chuyên mục Giao Duc Của Pgdtanbinh.edu.vn

Tìm hiểu thêm về dự án này http://canhonewcityhcm.com/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0