Những trí thức lớn người Việt từng học trường Pháp

Ít nhiều thụ hưởng nền giáo dục của Pháp thi công ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, nhiều học sinh đã trở thành trí thức lớn của dân tộc. Kéo dài gần 1 thế kỷ

Bộ Giáo dục lấy ý kiến về thi THPT quốc gia 2018
Nam sinh Mỹ làm giàu nhờ tiệm sushi trong phòng ký túc xá
Hệ thống trường nghề và cao đẳng thời Pháp thuộc

Ít nhiều thụ hưởng nền giáo dục của Pháp thi công ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, nhiều học sinh đã trở thành trí thức lớn của dân tộc.

Kéo dài gần 1 thế kỷ, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam được phân tách trái chiều. Năm 1905, Phan Bội Châu cho rằng Pháp “chỉ dạy viết văn Pháp, nói tiếng Pháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp”. Song mặt tích cực ngoài ý muốn của Pháp là tạo ra tầng lớp tri thức có trình độ đại học, nắm vững khoa học, kỹ thuật tiên tiến.

Nhà bách khoa của thế kỷ 20 Đào Duy Anh

Đào Duy Anh (1904-1988) là nhà sử học, địa lý, từ điển học, ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu kỹ văn hóa, tôn giáo, văn học dân gian nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ở Thanh Hóa, nguyên quán huyện Thanh Oai, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Năm 1923, ông tốt nghiệp Thành chung (trường Quốc học Huế) rồi ra dạy học trường Đồng Hới (Quảng Bình). Ba năm sau, ông tham dự sáng lập báo Tiếng Dân cộng Huỳnh Thúc Kháng rồi gia nhập Việt Nam Cách mạng Đảng (sau là Đảng Tân Việt).

nhung-tri-thuc-lon-nguoi-viet-tung-hoc-truong-phap

Vợ chồng giáo sư Đào Duy Anh. Ảnh tư liệu

Lĩnh vực khoa học Thứ nhất mà Đào Duy Anh quan tâm là từ điển học. Ông lần lượt đã đi vào hoạt động và xuất bản Hán – Việt từ điển (1932) và Pháp – Việt từ điển (1936). Đây là công cụ tra cứu rất cần thiết cho nhiều thế hệ học sinh trung học, được giả dụ cầu nối giữa lớp người già theo Nho học và lớp người trẻ theo Tây học.

Gần 40 năm sau, ông cho ra đời bộ từ điển đặc trưng, chuyên dụng Từ điển Truyện Kiều (1974). Tuy không phải người biên soạn từ điển Thứ nhất của Việt Nam, nhưng Đào Duy Anh đã đặt cơ sở cho nền từ điển học tiên tiến.

Trong lĩnh vực sử học, năm 1938, tác phẩm Việt Nam văn hoá sử cương của ông cộng có Văn minh An Nam (la Civilization Annamite, 1944) của Nguyễn Văn Huyên đã đánh dấu và đặt nền móng hình thành nền văn hóa học Việt Nam tiên tiến trên tinh thần khoa học, dân tộc.

Một số tác phẩm tiêu biểu của ông trong lĩnh vực này như Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938), Trung Hoa sử cương (1942), Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943) được giới tri thức trong nước và nhiều học giả địa cầu đấyn nhận, hoan nghênh.

Ông tự tích lũy kiến thức về nhiều ngành khoa học xã hội khác như Triết học, Dân tộc học, Xã hội học bằng biện pháp luận sử học và tư liêu lịch sử. Từ 1 người tốt nghiệp Thành chung, bằng ý chí tự học, Đào Duy Anh đã trở thành nhà bách khoa của thế kỷ.

Tôn Thất Tùng – tác giả của biện pháp cắt gan có quy phạm

Giáo sư Tôn Thất Tùng (1912-1982) là bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và địa cầu trong lĩnh giải phẫu gan. Ông sinh năm 1912 ở Thanh Hóa và lớn lên ở Huế.

Xuất thân từ gia đình quan lại nhà Nguyễn nhưng ông không theo nghiệp học làm quan. Năm 1931, ông ra Hà Nội học ở trường Trung học Bảo Hộ, hai năm sau đấy học trường Y khoa Hà Nội – thành viên của Viện Đại học Đông Dương có quan niệm nghề y là nghề “tự do”, không phân biệt giai cấp.

nhung-tri-thuc-lon-nguoi-viet-tung-hoc-truong-phap-1

Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng. Ảnh tư liệu

Một lần phát hiện gan của người bệnh có giun chui ở một vài các con phố mật, ông đã nảy ra ý tưởng dùng các lá gan bị nhiễm giun để phẫu tích cơ cấu của lá gan.

Liên tiếp các năm sau đấy 1935-1939, chỉ bằng con dao nạo thô sơ, ông đã phẫu tích trên 200 lá gan của tử thi để nghiên cứu kỹ một vài mạch máu và vẽ lại thành sơ đồ đối chiếu. Trên cơ sở đấy, ông đã viết và bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa có nhan đề “Cách phân chia mạch máu của gan”.

Bản luận án được phân tách cao và trở thành tiền đề cho các công trình khoa học nổi tiếng của ông. Với bản luận án này, Tôn Thất Tùng đã được Đại học Tổng hợp Paris tặng huy chương bạc.

Khi Tôn Thất Tùng trở thành bác sĩ nội trú ở Bệnh viện Phủ Doãn (tiền thân của Bệnh viện Việt Đức giai đoạn này), sau nhiều lần cắt gan người chết, ông đề xuất có thầy giải đáp về biện pháp của mình. Phương pháp này sau đấy được gửi Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris và bị giáo sư đầu ngành công kích dữ dội, vì ý tưởng của Tôn Thất Tùng quá mới.

Mãi đến năm 1952, ở hội nghị Phẫu thuật quốc tế ở Copenhaghen (Đan Mạch) biện pháp cắt gan có quy phạm của ông mới được thừa nhận. Tôn Thất Tùng được giới y học quốc tế chú tâm và ca ngợi là “người cha của cắt gan có quy phạm”.

Sau này, ông có nhiều cống hiến cho ngành y học Việt Nam trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa (Đại học Y Hà Nội), Giám đốc Bệnh viện Việt – Đức, Thứ trưởng Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giáo sư Hoàng Như Mai – Học giả danh tiếng trong nghiên cứu kỹ văn học

GS.NGND Hoàng Như Mai (1919-2013) quê gốc Hà Nội, sinh ra và lớn lên ở phủ Lạng Thương (tỉnh Bắc Ninh). Ngày vào lớp đồng ấu (lớp 1 giai đoạn này), ông được 1 thầy giáo già truyền tình yêu văn chương, qua các bài giảng chữ Nho, chữ quốc ngữ và các bài Pháp văn.

Hồi 8-9 tuổi, có lần ông được người anh dẫn lên Hà Nội vào rạp chiếu bóng chơi, được tận mắt nghe câu thoại của nam diễn viên có bạn trai “Đôi mắt em xanh như nước biển Địa Trung Hải” bằng tiếng Pháp. Câu thoại đấy cứ vấn vương mãi trong đầu cậu bé nhiều năm sau này.

Học xong tiểu học, ông lên Hà Nội vào trường Trung học Bảo Hộ (trường Bưởi) trong hệ thống giáo dục Pháp – Việt, được học chương trình văn học Pháp gồm nhiều tác gia lớn của thế kỷ 16-18 và một vài tác giả lãng mạn thế kỷ 19.

Cuốn tiểu thuyết gây ấn tượng mạnh ban đầu cho ông là Graziella của Lamartine, đặc trưng là bài thơ hoài niệm cuối sách Mối hận Thứ nhất được Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt. Sáu bảy chục năm sau đấy ông vẫn thuộc lòng nhiều đoạn trong tiểu thuyết này.

nhung-tri-thuc-lon-nguoi-viet-tung-hoc-truong-phap-2

Giáo sư Hoàng Như Mai. Ảnh: Đại học Văn Hiến

Những năm học trường Bưởi cũng là thời kỳ phong trào Thơ Mới nở rộ nên thế hệ của Hoàng Như Mai đã tìm được các thi sĩ cho riêng mình. Ông khâm phục Xuân Diệu nhưng thích đọc nhất là Thế Lữ, J.Leiba Thái Can, Lưu Trọng Lư và sau này là Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân.

Tiếp đấy, Hoàng Như Mai lần lượt theo học ở Đại học Y khoa và Đại học Luật khoa Đông Dương ở Hà Nội. Năm 1943, khi đang là sinh viên Đại học Luật, ông bắt đầu đứng trên bục giảng ở trường Trung học tư thục Đông Hải (Hải Dương).

Năm năm sau, ông được Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Thái Bình mời làm hiệu trưởng trường Trung học Phan Thanh. Sau đấy, ông lần lượt làm giảng viên, hiệu trưởng ở một vài trường Sư phạm Việt Bắc (1951), Sư phạm Trung cấp trung ương (1953), Đại học Tổng hợp Hà Nội (1959), Đại học Tổng hợp TP HCM (1980).

Ông để lại di sản nghiên cứu kỹ văn học khá đồ sộ. Bộ giáo trình Văn học Việt Nam tiên tiến (1945-1960) của Hoàng Như Mai có giá trị rất riêng, bởi đấy là công trình Thứ nhất có tính đột phá, nghiên cứu kỹ về 1 chặng các con phố văn học còn nóng hổi tươi nguyên đối có thời kỳ đấy.

Các tập chuyên luận, tiểu luận về thơ Thơ 1 thời, Bản sắc dân tộc trong thơ Hồ Chí Minh hay sân khấu Nhận định về cải lương“, Trần Hữu Trang – soạn giả cải lương đến nay vẫn nguyên giá trị cho giới nghiên cứu kỹ.

Trong lĩnh vực sân khấu kịch nói, giáo sư Hoàng Như Mai cũng để lại dấu ấn có một vài tác phẩm nghiên cứu kỹ Tiếng trống Hà Nội, Dòng sông biên giới, Vẽ chân dung cụ Đồ Chiểu.

Ngoài ba trí thức trên, còn nhiều người trưởng thành từ nền giáo dục thời Pháp thuộc, như: giáo sư Hoàng Minh Giám (1904-1995); giáo sư Nguyễn Lân (1906-2003); giáo sư, viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993); nhà nông học Lương Định Của (1920-1975); giáo sư Toán học Nguyễn Cảnh Toàn (1926-2017)...

Bạn đang xem chuyên mục Giao Duc Của Pgdtanbinh.edu.vn

Tìm hiểu thêm về dự án này http://canhonewcityhcm.com/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 1