Sản phẩm xanh: Nhiều rào cản phải vượt qua

Doanh nghiệp lo chi phí và cách thức thực hiện... Viện Nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ (FiBL) thống kê, qui mô sản xuất nông nghiệp hữu

Bộ Công Thương yêu cầu tìm chỗ nhận chìm 2,4 triệu m3 chất nạo vét
Đằng sau con số chi 18.000 tỷ đồng nhập hoa quả về Việt Nam
Khách quốc tế đến Việt Nam đạt kỷ lục mới trong tháng 8

Doanh nghiệp lo chi phí và cách thức thực hiện…

Sản phẩm xanh: Nhiều rào cản phải vượt qua

Viện Nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ (FiBL) thống kê, qui mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đạt trên 43.000 ha, đứng thứ 56/172 nước trên địa cầu, thứ 3 trong ASEAN.

Để có sản phẩm sạch, nhân tố cần thiết Thứ nhất là công đoạn sản xuất nguyên liệu. Trong khi kinh phí sản xuất sạch cao hơn rất nhiều so có sản xuất truyền thống. Chi phí cao nhưng chi phí phẩm chưa được người tiêu dùng đâyn nhận, đây chính là nhân tố làm nản lòng nhà sản xuất.

Ông Nguyễn Phúc Khoa, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) cho biết, cái khó của sản xuất xanh là kinh phí khá cao nên chi phí sản phẩm cao hơn sản phẩm bình thường. Vì thế, chỉ 1 thời gian ngắn thí điểm, sản phẩm gạo sạch ở An Giang do tỉnh hỗ trợ trên 37,8 ha đã phải từ bỏ.

Lo ngại kinh phí quá lớn

Ngay mặt hàng gạo Oganic mà Satra sản xuất cũng mất rất nhiều công sức. Công ty phải mất 2 năm dự trù mới có thành phẩm gạo sạch. Chi phí đầu tư cho 1 kg gạo Vietgap cao hơn 12.000 đồng/kg so có sản xuất gạo bình thường nên gạo thành phẩm phải phân phối trên 30.000 đồng thì công ty mới thu hồi được vốn. Tuy nhiên, đối tượng bạn cũng chưa rộng bởi mức lương của người dân còn thấp.

Theo bà Vũ Thị Quyền, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn nông nghiệp nhiệt đới Tp.HCM, nhiều người nhầm tưởng nông nghiệp xanh là nông nghiệp hữu cơ nhưng thực ở là nông nghiệp xanh lại là cả quá trình sản xuất hạn chế tác động đến môi trường và con người. Theo đây, nguồn đất trồng phải sạch và chỉ được bổ sung một số loại dinh dưỡng hữu cơ.

Viện Nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ (FiBL) thống kê, qui mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đạt trên 43.000 ha, đứng thứ 56/172 nước trên địa cầu, thứ 3 trong ASEAN.

Theo Cục Trồng trọt, đến hết năm 2016, cả nước có 26 cơ sở sản xuất hữu cơ ở 15 tỉnh, thành, có tổng qui mô 4.100 ha. Chủ yếu trồng dừa, chè, lúa, rau. Một số mô hình có kết quả khá hiệu quả như nuôi cá hữu cơ (An Giang), tôm sinh thái ở rừng ngập mặn Cà Mau. Hiện tôm và cá đã có chứng nhận hữu cơ có tổng qui mô 10.000 ha, xuất khẩu sang EU. Một số công ty đi đầu trong sản xuất hữu cơ như Cty Viễn Phú sản xuất lúa, cá ở Cà Mau, Cty Oganic Đà Lạt sản xuất rau hữu cơ.

Một trong các vấn đề quan tâm đối có khái niệm sản xuất sạch hơn trong nông nghiệp là tạo ra một số sản phẩm an toàn. Nhiều cơ quan, tổ chức ở nhiều địa phương đã có các nghiên cứu kỹ và thi công nhiều mô hình sản xuất an toàn.

Đến tháng 6/2017, cả nước có 1.390 cơ sở có chứng nhận Vietgap đang còn hiệu lực, có 18.235,81 ha, trong đây cà phê chiếm 127 ha, chè là 1.933,8 ha, lúa là 993,5 ha, cây ăn trái chiếm 10.796 ha, rau là 4.385 ha.

Nhiều rào cản phải vượt qua

Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định số 899 ngày 10/6/2013 phê duyệt Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị tăng lên cao, phát triển bền vững. Việt Nam đã thành lập Hội đồng Quốc gia về phát triển bền vững để thúc đẩy tăng trưởng xanh quốc gia.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thành lập Ban chỉ đạo về phát triển bền vững từ năm 2013 để cơ cấu ngành nông nghiệp GĐ 2015-2020, trong đây lồng ghép nội dung chiến lược phát triển bền vững GĐ 2011-2020 vào quá trình hoạch định chính sách phân phối hàng.

Mặc dù xuất khẩu nông sản của Việt Nam tiếp tục tăng lên, nhưng tăng trưởng đi ngang và đâyng góp trong nhóm hàng hoá xuất khẩu lại có xu hướng giảm. Thị đa số loại nông sản chủ lực của Việt Nam trên phân khúc địa cầu ổn định nhưng dư địa cho xuất khẩu nông sản thô của Việt Nam đang hẹp dần.

Đơn cử như gạo Việt Nam chiếm thị phần không đáng kể ở một số phân khúc có giá trị lớn nhất địa cầu và đang suy giảm thị phần ở một số phân khúc chính. Điều đáng suy ngẫm hơn, Việt Nam chỉ chiếm thị phần nhỏ bé (1%) trên phân khúc xuất khẩu rau quả có trị giá hơn 140 tỷ USD, chỉ xuất sang Trung Quốc là chính nhưng cũng có khuynh hướng giảm từ 2009 đến nay.

Hiện ngành nông nghiệp chủ yếu sản xuất theo định hướng xuất khẩu, trong khi phân khúc nội địa tăng trưởng nhanh, nhu cầu phong phú và càng ngày càng mở rộng. Theo tiên liệu của một số chuyên gia, phân khúc nội địa sẽ tăng đối trọng có phân khúc xuất khẩu trước các một sốh tân lớn về điều kiện kinh tế, xã hội. Do vậy, làm nông nghiệp cần có tầm nhìn vượt lên vận hành sản xuất nông nghiệp để cung cấp nhu cầu của Việt Nam.

Vấn đề an toàn thực phẩm sẽ rất khó kiểm soát bởi vận hành sản xuất, chế biến, đâyng gói đa số một số mặt hàng đều thực hiện ngoài địa phương. Lượng rau trồng ở Tp.HCM mới chỉ cân đối được 25,5%, nhu cầu phân khúc, còn lại phải nhập từ một số tỉnh. Phương pháp sản xuất truy xuất lý do vẫn gặp gặp khó do các vùng không có mạng tài liệu thì khó truy xuất.

Tiếp đây là việc gắn từng con chíp, tem dán trên từng sản phẩm sẽ làm tốn kinh phí, đội chi phí. Vòng gắn cho heo hiện được Tp.HCM tài trợ, nhưng vẫn có 1 số lượng heo về chợ đầu mối Bình Điền chưa đeo vòng. Do vậy, cần có nhiều bên tham dự vào quy trình sản xuất sạch để giảm kinh phí và phổ cập tài liệu đến người dân mọi vùng miền. Ngoài ra, để có sản phẩm xanh, cần phải đầu tư, chấp nhập 1 phần kinh phí.

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Doanh ở Pgdtanbinh.edu.vn

Tìm hiểu thêm dự án http://duanmasterianphu.com/. Xem có thể đầu tư vào duanmasterianphu.com không ?

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0